Thời Báo Vietnamese Newspaper

Bản Cát Cát

Bài – ảnh: Trần Công Nhung

Du khách đến Sapa, ngoài chuyện dạo chơi con phố Cầu Mây, nơi tập trung các sắc dân vùng Tây Bắc vào những ngày cuối tuần, ngày lễ, còn đi thăm bản làng. Bản làng xa có Tả Van, Giàn Tà Chải, Bản Hồ, Nậm Cang, Nậm Nhiều…gần có Cát Cát, Xí Chải. Trời đang mùa Tết, có mưa xuân, nhưng vùng Sapa nhiều khi mưa nặng hạt hơn Hà Nội và thường kéo dài, trở ngại cho du khách không ít.
Với tôi, mưa mù có cái đẹp của mưa mù. Tôi mang máy đi dọc con phố, xuống chợ Sapa, lên khu nhà thờ, cũng có nhiều điều thú vị, cũng có ảnh để chụp. Chiều nay trời ửng sáng, tôi nhờ Nam (Tour guide) đưa đi bản Cát Cát, Nam là chồng cô gái duyên dáng ở khách sạn Ninh Hồng tôi gặp mấy năm trước.

Bản nằm về hướng Tây cách thị trấn Sapa chừng vài cây số. Nam dùng xe máy chở tôi qua nhiều đoạn đường lên xuống dốc đồi, xe chạy đã mệt, dân bản cuốc bộ chẳng hề gì. Từ bản ra Sapa hay những phiên chợ xa hàng chục cây số, họ đi lúc nửa đêm, sáng ngày mới đến, có khi chỉ để uống mấy chén rượu, ăn cây mía, hay dạo chơi rồi về. Cuộc sống dân miền sơn cước cứ trôi đều đều, họ không để ý đến thời gian.
Lúc qua một khu nhà Tây từ trăm năm còn sót lại, nay là nhà kiểm lâm. Ngôi nhà gạch, mái ngói đỏ, nằm chênh vênh bên sườn đồi. Từ khách sạn Ninh Hồng (Mountainview Hotel) tôi đã chụp được tấm ảnh khá đẹp. Xe xuống lưng chừng dốc thì dừng ngay cổng Làng Văn Hóa Thôn Cát Cát (Catcat Cultural Village). Nam gửi xe rồi chỉ cho tôi: “Mình đi bộ qua bên kia đồi”. Tôi nhìn con đường loằng ngoằng bò xuống thung lũng, bò lên ngọn đồi cao bên kia…Tôi tự hỏi: “Liệu đi nổi không”. Tôi hơi do dự, Nam trấn an:
– Không sao đâu chú. Mình đi từ từ, đường cũng dễ. Nhiều ông bà già đã đi.

Bản làng loáng thoáng mấy mái nhà tôn trên sườn đồi hoặc dọc hai bên con đường mòn. Không thấy nhà lợp ván hay tranh, nhà sàn thì tuyệt nhiên không có. Ðoạn đầu của con đường xuống bản rất dốc. Ðá tảng xếp thành bậc chỗ cao chỗ thấp. Trời vừa tạnh mưa, tam cấp còn bầy nhầy trơn trợt. Nam đi bên cạnh nhắc chừng tôi cẩn thận. Thế nhưng, chỉ một đoạn tôi đã trợt chân té ngửa ra. Một tay nắm máy ảnh để trên ngực, tay kia cùi chỏ đập xuống đá, đau thót cả ruột. Nam kéo tôi dậy, tôi cử động thử xem cùi chỏ thế nào. Biết là không bị gãy nhưng trầy da chảy máu và cơn đau kéo dài.

Xuống thêm vài bậc, có một lều tôn trống trải nghèo nàn, treo một ít hàng thổ cẩm, mấy đứa nhỏ đen đúa bẩn thỉu, tò mò nhìn khách vào ra. Khách xem thì nhiều, chẳng thấy ai mua. Tôi vừa đi vừa chụp ảnh. Trên cao nhìn xuống ruộng nương chạy viền chân núi chân đồi, chỗ nước chỗ khô… Ruộng bậc thang ở đây không đẹp bằng miệt Tả Van. Lên đến bản rõ mệt mà chẳng có gì xem. Do địa thế của bản, sinh hoạt dân chúng không tập trung, không có gì đặc biệt. Ngang qua một vạt rau xanh, một loại cây tôi chưa hề thấy. Nam giới thiệu:
– Ðây là cây chàm, người Dân Tộc ủ để nhuộm.
Tôi ngạc nhiên, cây chàm là một loại rau? Tôi cứ ngỡ chàm là giống cây rừng cao lớn. Thấy tôi tỏ vẻ lạ, Nam giải thích:
– Cây chàm có vị rất đắng, heo bò không thể ăn vì thế họ không cần phải rào dậu chăm ngó, trồng xong để đấy, khi cần lấy ủ cho lên màu rồi nhuộm.
– Ủ thế nào?

– Họ ngâm cho thối để chàm lên men. Cũng có khi chàm bị chết không cho màu, họ đổ nước tiểu trẻ con vào, một loại vi sinh sẽ tái tạo quá trình lên men và có màu trở lại. Trong trường hợp này họ phải nếm mới biết chắc: Mùi nặng và chua là chàm lên men. (Một hình ảnh không vệ sinh tí nào)
– Còn những màu khác?
– Màu đỏ từ cây Mắc Sét, quả giống chôm chôm, luộc lên có màu đỏ. Vỏ cây chay (ăn trầu) và một số vỏ cây khác ngâm cho màu cánh kiến.
Vừa đi vừa nói về màu sắc nói về phong tục tâm linh của người Mông, người Thái, tôi không còn thấy mệt. Qua một con dốc, Nam chỉ cho tôi một thác nước, có nhà máy thủy điện bỏ hoang.
– Ðấy là nhà máy điện của người Pháp, nhà máy này cung cấp điện cho thị trấn Sapa, họ dùng nước của thác (Cascade) chạy tuốc bin, và từ đó bản vùng này có tên Cát Cát.

Thế mà lâu nay nghe tên tôi tưởng bản có nhiều mèo (Cat= mèo). Trên cao nhìn chiếc cầu treo bắc qua nhà thủy điện, con suối nước không nhiều, lòng suối có chỗ phơi bày đá cuội, cảnh đẹp và rất thiên nhiên. Nhưng, không hiểu sao lại một phần suối bị chắn xây xây cao như bờ đập. Phần nhân tạo này làm cho suối bị chặt ngang hông, cảnh thành xơ cứng mất hết ý nghĩa. Một nhóm du khách đang đứng trên nền xi măng nhìn con suối bò về phía xa, bất chợt có người quay hỏi tôi:

– Họ xây vầy để làm gì chú, cháu thấy chẳng ích lợi gì cả.
Tôi nhờ Nam trả lời.
– Du lịch dự tính xây quầy giải khát.
Mọi người ngạc nhiên lắc đầu. Thiếu gì chỗ xây, sao lại phá cảnh thiên nhiên thơ mộng mà con người không thể tạo. Thực tình mà nói, nơi nào cũng chỉ nghĩ đến tiền bạc ăn nhậu, không kể gì “lễ giáo gia phong, sơn hà xã tắc”. Ngôi nhà bác sĩ Yersin ở Nha Trang phá xây khách sạn (di tích không có tiền), Cảnh Hòn Chồng (Nha Trang) cũng mọc lên mấy ngôi nhà, chắn cổng bán vé làm nát toàn cảnh thiên nhiên khu Hòn Chồng. Biệt điện Bảo Ðại ở Ðồ Sơn cho thuê 100USD một phòng mỗi đêm…Hóa ra chúng ta chỉ có “văn hóa ăn ngủ”!
Tôi nhìn con suối mà đau xót thay, giá đừng “bờ đập” thì cảnh đẹp biết bao. Ðây có thể là nơi đẹp nhất, thú vị nhất cho khách dừng chân khi thăm bản. “Cơ quan chức năng” lại không thấy điều đó, lại tự hào “công nghiệp hóa, kỹ nghệ hóa” môi trường sinh thái. Ðiều này có nói ra thì câu trả lời sẽ là: “Làm ra của cải vật chất là chính, nếu không làm được, sửa lại mấy hồi”. Biết bao công trình rơi vào tình cảnh như thế xưa nay…

Trở lại với thực tại của mình, tôi chụp ít ảnh, nghe tiếng suối lao xao, ngắm cảnh núi rừng trầm mặc, rồi tiếp tục theo con đường mòn lên đồi. Những bụi tre bên đường, thân to thẳng đứng rất đẹp nhưng đốt có những lỗ khoét, tôi hỏi Nam tại sao. Nam cho biết lúc tre còn non, ong chui vào làm tổ. Người H’Mông đục lấy trứng ăn. Nhộng (ong con) thì ăn ngon còn trứng thì không hiểu thế nào.
Lên đến đỉnh đồi, trong lúc ngồi nghỉ mệt, tôi hỏi thăm Nam một vài tập tục của người vùng Tây Bắc.
– Trong tình yêu người dân ở đây có tập tục đặc biệt hay cũng bình thường như người Kinh?
– Cách trao đổi tâm tình của người H’Mông rất văn nghệ, họ không hẹn hò tình tự như mình. Trai gái ra rừng, bẻ lá làm kèn, người nam thổi lên giai điệu theo cảm hứng của mình, người nữ bằng cách nào đó thấy được tình cảm của bạn, cũng thổi lên những âm điệu tự lòng mình. Nếu cả hai đối đáp hạp nhau thì yêu nhau rồi đi đến hôn nhân.

– Theo em thì lời nhạc ý nghĩa thế nào?
– Tùy mỗi người nhưng thường có nghĩa: “Em đã có người yêu chưa”? Và khi nghe đáp lại bằng một câu nhạc với giai điệu nào đó người con trai cũng hiểu và rồi họ nên duyên.
– Nghe nói họ cũng có tục “cướp vợ”?
– Dạ đúng, nhưng nếu sau 3 ngày người con gái không chịu thì cũng phải thả ra. Người H’Mông có niềm tin vào thần linh rất mạnh. Chú thấy trẻ nhỏ đeo cái kiềng bạc, không phải làm đẹp như người mình, mà để khóa mấy vị Thần lại.
– Thần gì mà khóa làm sao?
– Theo người H’Mông, khi đứa bé sinh ra, họ làm một lễ mời 3 ông Thần: Ðầu Ngực Bụng vào trong thân đứa bé rồi đeo kiềng khóa lại. Khi Thần Ðầu bỏ đi là đứa bé đau đầu. Thần bụng vắng mặt là đau bụng…Gặp trẻ người H’Mông không nên xoa đầu, làm thế là động ông Thần Ðầu sẽ rắc rối cho đứa trẻ.
– Hay nhỉ. Thế những dân tộc khác thì sao?
– Mỗi dân tộc có tục lệ riêng. Vào nhà người Dáy không được đạp lên ngưỡng cửa mà phải bước qua. Người H’Mông còn tin trong nhà có ma tốt ma xấu, họ sợ người lạ vào nhà mang theo ma xấu. Cột cái trong nhà người H’Mông là Thần giữ nhà, con trai sinh ra, nhau chôn dưới cột cái để Thần giúp cho nối dõi tông đường và gia đình thịnh vượng, gái thì nhau chôn dưới chân giường vì sẽ đi lấy chồng.
– Trong tình bạn bè chòm xóm, người H’Mông có gì đặc biệt?
– Bạn thân đến chơi, thường mang cái sừng trâu có rượu, lúc ra về, chủ nhà xẻo tặng một miếng thịt (thịt treo sẵn ở giàn bếp để ăn hàng ngày). Không có thịt thì tặng một con gà con. Nói chung người dân Tây Bắc có nhiều tục lệ nhưng ngày nay người Kinh cứ truyền bá cái văn hóa của mình nên bản sắc của họ bị phai mờ dần. Tuy nhiên mỗi năm họ vẫn vui chơi tưng bừng trong dịp lễ hội Gầu Tào (lễ đầu xuân).
Mãi nghe kể chuyện tôi sực nhớ vội đứng dậy giục Nam đi tiếp kẻo trời tối. Con đường càng lúc càng hẹp, hai bên đồi, nhà cửa lưa thưa, mỗi nơi một cái, không thấy trồng trọt gì nhiều. Con đường xuống hẹp dần rồi qua một chiếc cầu treo. Bên kia cầu có một tốp xe ôm, chờ đón những ai mỏi chân không muốn đi tiếp.

Thăm bản Cát Cát là làm một cuộc đi bộ vừa thể dục vừa ngắm cảnh núi đồi chứ bản thì không có gì rõ rệt. Kế bản Cát Cát là bản Xí Chải, bản này cư dân tập trung hơn, phần lớn người H’Mông. Bản còn nhiều nhà lợp ván, nhà tối om, tuy vậy trong nhà không có muỗi, vì muỗi không chịu được mùi gỗ Pờ Mu.

Nam đưa tôi trở lại khách sạn vừa lúc mặt trời mờ nhạt sau đỉnh Fansipan. Phố Cầu Mây đã lắng những nhộn nhịp trong ngày, hơi lạnh lên từ từ. Tôi kết thúc một buổi ngoại dã nhẹ nhàng không lấy gì làm mệt như ý nghĩ lúc đầu. Chỉ mỗi cái cùi chỏ nhức ngấm ngầm, giờ thì càng rõ hơn.

Trần Công Nhung

Tin sách
Sách Quê hương qua ống kính bộ 16 tập (discount 50% 10 tập đầu) xin liên lạc tác giả:
Nhung Tran
PO.Box 163
Garden Grove, CA. 92842
Tel. (816) 988-5040
email: trannhungcong46@gmail.com

Comments are closed.

error: Content is protected !!