Thời Báo Vietnamese Newspaper

Bãi Hoang

Lời người dịch: Alan Paton (1903-1988) nhà văn Nam Phi và là nhà hoạt động chống chính sách kỳ thị chủng tộc Apartheid. Tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là tiểu thuyết Cry, the Beloved Country đã hai lần được chuyển thể thành phim (1951 và 1995) đồng thời làm bối cảnh cho nhạc kịch Lost in the Stars trên sân khấu Broadway. Các tiểu thuyết cũng như truyện ngắn của Alan Paton xoay quanh những chủ đề về sắc tộc, về sự kỳ thị màu da trên đất nước Nam Phi trước khi khi chính sách kỳ thị sắc tộc dưới sự lãnh đạo độc tôn của đảng Quốc Gia Nam Phi (Apartheid) cáo chung năm 1994. Truyện ngắn The Waste Land trích trong tập Debbie Go Home, Hazell Watson & Viney Ltd. xuất bản tại Anh Quốc 1961.

Xe buýt vừa chuyển bánh ông nhận ngay ra là mình ở trong tình thế nguy hiểm, bởi ánh đèn xe chiếu rõ hình ảnh bọn thanh niên đang chờ sẵn dưới tàng cây. Đụng đầu với bọn chúng là điều mà ai cũng sợ. Đó cũng là điều mà ông vẫn nhắc tới, ai ngờ bây giờ chính ông phải đối đầu với chúng.
Lúc này chạy theo xe buýt thì cũng đâu kịp nữa; chiếc xe đã chạy xuôi con đường tối mịt mù, như hải đảo an toàn giữa một đại dương hiểm nghèo. Dù chỉ mới đối mặt nỗi hiểm nguy một giây đồng hồ, miệng ông đã khô đắng, trái tim náo loạn trong lồng ngực, thứ gì đó sâu thẳm trong tâm can ông kêu réo phản kháng những gì sắp xảy ra.
Cọc tiền lương cồm cộm trong ví và ông có thể cảm nhận được cái ví đè nặng lên đùi ông. Đó là thứ mà chúng nó muốn tước đoạt của ông. Chẳng nghi ngờ gì nữa. Vợ ông rồi sẽ thành quả phụ, lũ con sẽ mất cha, chẳng nghi ngờ gì nữa. Lòng nhân ái là thứ không có thật.
Dùng đằng chân bước, ông nghe tiếng bọn thanh niên bước về phía ông, không phải chỉ từ phía có ánh đèn mà còn từ trong bóng tối nữa. Chúng nó không nói năng gì hết, ý đồ của chúng nó là điều không thể nói ra. Tiếng bước chân của chúng nó lồng trong gió đến tai ông. Xuống xe ngay chỗ này thật là tai hại, bởi sau lưng ông là bức tường cao của tu viện, nơi mà cánh cổng đóng chặt và chỉ mở ra khi có người chết. Phía bên kia con đường là khu đất hoang, đầy dây kẽm gai và xác xe hơi cũ. Hy vọng duy nhất nằm ở khu đất ấy, và ông rảo bước về phía ấy; ông bước nhanh và qua tiếng huýt sáo của bọn thanh niên, ông biết chúng nó cũng đi về phía ấy.
Nỗi sợ hãi quá lớn lao và bất ngờ, cái mùi của nỗi sợ hãi lan từ thân thể hắt ra hai lỗ mũi ông. Ngay lúc ấy một đứa trong bọn quát lớn, ra lệnh cho đồng bọn. Vướng vào bẫy nên đột nhiên con người ông đầy ắp sức mạnh cùng với sự phẫn nộ, ông tuông chạy về phía khu đất hoang tay vung khúc cây nặng trĩu. Trong bóng đêm một bóng người chồm lên ông, ông giộng khúc cây lên đầu nó, ông nghe tiếng rú đầy đau đớn của nó. Rồi ông tuông chạy vào vùng hoang dã của kẽm gai cùng sắt vụn và vỏ xe hơi cũ.
Cái gì đó níu lấy chân ông, ông vung cây gỗ đập xuống nó, nhưng không phải người, chỉ là miếng kim loại có cạnh sắc như dao. Ông bật khóc và thở hụt hơi, nhưng vẫn cố chạy vào bãi đất hoang, trong khi phía sau ông bọn chúng hùng hổ đuổi theo, đạp đổ những thân xe cũ và đá văng những thùng thiếc, những sô nhựa. Ông ngã nhào vào đống dây nhợ nhùng nhằng; nhúm kẽm gai xé rách áo quần và da thịt ông. Kẽm gai níu ông lại, ông nghĩ mình sắp chết rồi, chẳng còn hy vọng gì nữa rồi, ông gào, “Cứu tôi, cứu tôi!” bằng cái thứ mà lẽ ra là tiếng kêu vang động nhưng thực ra lại chỉ là hơi thở gấp gáp không chút thanh âm. Ông giật mớ kẽm gai, kẽm gai giật lại ông, cào rách mặt và hai bàn tay ông.
Rồi bỗng dưng lũ kẽm gai buông ông ra. Ông thấy chiếc xe buýt trở lại trên đường và ông lại gào to bằng tiếng thét không có thanh âm, “Cứu tôi, cứu tôi!” Trong vùng ánh sáng đèn ở đầu chiếc xe ấy, ông thấy được bóng một thằng thanh niên. Thần Chết gần kề bên ông, và trong thoáng giây lồng ngực ông đầy ắp nỗi uất ức cho kiếp sống đầy bất công với một kẻ chỉ biết chí thú làm ăn và luôn tôn trọng luật pháp. Ông vung cây gậy nặng nề lên và giáng xuống đầu cái đứa đang đuổi theo ông, nó ngã sụm xuống đất, rên rỉ như thể cuộc sống cũng bất công với nó vậy.
Rồi ông xoay đầu bỏ chạy, đâm sầm vào xác một chiếc xe vận tải cũ, và loạng choạng ngã giúi xuống đất. Ông nằm đó, chờ cú đập kết liễu mạng ông, nhưng ngay lúc ấy trí phán đoán trở về với ông và ông lăn hai vòng vào dưới gầm chiếc xe phế thải. Ruột gan ông tưởng chừng như đang trào ra khỏi miệng, môi ông mặn chát vị mồ hôi và máu. Trái tim ông như con vật điên cuồng trong lồng ngực, nhấc bổng toàn thân ông lên theo mỗi nhịp đập của nó. Ông cố nén tiếng tim đập, bởi ông sợ chúng nó nghe được, ông cũng cố kềm giữ tiếng thở dồn dập, nhưng vô hiệu.
Rồi đột nhiên trong đêm đen ông thấy hai đứa thanh niên. Ông nghĩ bọn nó đã nghe thấy những tiếng động ông gây ra; nhưng hai đứa nó cũng thở hì hạch như người chết đuối, và giọng nói của chúng nó hụt hơi, ngắt quãng.
Một đứa nói, “Mày nghe thấy không?”
Hai đứa cùng thở hì hạch và lặng im nghe ngóng. Ông cũng lắng nghe, nhưng chẳng nghe thấy gì ngoài tiếng trái tim ông đuối nhịp.
“Tao nghe tiếng một người đàn ông… chạy… trên đường,” một đứa nói. “Nó trốn mất rồi… mình về thôi.”
Rồi vài đứa nữa chạy tới, vừa thở hì hạch vừa chửi con mồi vừa chạy thoát.
“Freddy,” một đứa gọi, “bố mày chạy thoát rồi.”
Không có tiếng trả lời.
“Thằng Freddy đâu rồi?” một đứa hỏi.
Một đứa khác nói, “Im đi xem nào!” rồi lớn tiếng gọi, “Freddy.”
Vẫn không có tiếng trả lời.
“Về thôi bay ơi,” nó nói.
Cả bọn bước đi chậm chạp và thận trọng, rồi một đứa đứng sựng lại.
“Có ăn rồi tụi bay ơi,” gã nói. “Thằng chả đây rồi.”
Gã quỳ xuống đất, rồi buột miệng chửi thề.
“Có thấy tiền bạc gì đâu,” gã lầu bầu.
Một đứa bật que diêm, và dưới ánh sáng leo lét của ngọn lửa đầu que diêm, người đàn ông nấp dưới gầm xe vận tải thấy gã thanh niên bật người dậy.
“Thằng Freddy đây mà,” một đứa nói. “Nó chết rồi.”
Rồi cái đứa đã nói ‘im đi xem nào’ ra lệnh, “Khiêng nó lên, bỏ nó dưới gầm xe vận tải đi.”
Người đàn ông trốn dưới gầm xe vận tải nghe tiếng bọn thanh niên hì hục với cái xác của đồng bọn, ông lăn thêm một vòng, rồi một vòng nữa sâu vào nơi ẩn náu. Bọn thanh niên khiêng xác chết và quăng vào gầm chiếc xe vận tải, cái xác người lăn và chạm vào người ông. Rồi ông nghe tiếng bọn chúng bỏ đi, không nói năng, chậm chạp và lặng lẽ, thỉnh thoảng vướng vào vật gì đó trong khu đất hoang.
Ông xoay người nằm nghiêng, để khỏi chạm vào xác người thanh niên. Ông vùi mặt vào hai cánh tay, và lầm thầm câu thành ngữ quen thuộc trong ngôn ngữ của riêng ông, “Hãy đứng dậy đi thôi! Thế Giới đã chết rồi.”
Rồi ông bò dậy, lảo đảo lê bước ra khỏi bãi đất hoang.

Bản tiếng Việt – Hoàng Chính 

Comments are closed.

error: Content is protected !!