Ăn đến tuyệt chủng

Loài người từ xa xưa đã biết thích ăn ngon. Ngay từ thời còn ăn lông ở lỗ người ta đã ưa thích món thịt voi mammoth là vì loài động vật này không chỉ cho nhiều thịt, mà thịt của chúng lại rất mềm. Người La Mã cổ thì mê ăn rau thơm silphium đến nỗi người ta rắc loại rau thơm này lên tất cả mọi món ăn, từ thịt cừu cho đến dưa trái. Vào thế kỷ 19 ở Hoa Kỳ, món bánh nướng nhân thịt bồ câu rừng được cho là món khoái khẩu thời đó, trước khi người ta cho thay thế bằng món bánh nướng nhân thịt gà. Riêng về phần tráng miệng, người Mỹ sống cách đây một thế kỷ ưa thích món tráng miệng là trái lê Ansault thơm ngọt, được cho là loại lê ngon nhất từ trước tới nay. Nghe vậy chắc có nhiều người thắc mắc: nếu những món ăn kia được người xưa ưa chuộng đến như thế không biết có thích hợp với khẩu vị của người thời nay hay không? Mặc dù đã được mô tả là những món ăn ngon miệng nhưng thực sự chúng ta sẽ không bao giờ có câu trả lời ngon hay không là vì những động và thực vật kể trên nay đã tuyệt chủng.
Trong số những động và thực vật tuyệt chủng trên, loài bồ câu rừng nằm trong số những loài bị tuyệt chủng gần đây nhất. Được biết con bồ câu rừng cuối cùng của dòng họ này là cô bồ câu mái được người ta đặt tên là Martha. Cô sống thui thủi cô đơn một mình trong một thời gian khá lâu trước khi qua đời vào ngày 1 tháng 9 năm 1914, và sự kiện này có lẽ đánh dấu lần đầu tiên loài người đã chứng kiến một loài động vật gần gũi quen thuộc biến mất ngay trước cặp mắt trần của chúng ta và nhận thức một cách đầy đủ khái niệm về sự tuyệt chủng cũng như vai trò của chính mình trong việc gây ra sự tuyệt chủng đó. Tuy nhiên, loài bồ câu rừng không phải là loại động vật đầu tiên bị loài người ăn cho đến tuyệt chủng đâu mà còn nhiều loại khác cha ông chúng ta đã ăn cho đến kỳ hết mới thôi, chẳng hạn như một số loài động vật lớn mà người tiền sử đã tận diệt trong khi dân số loài người ngày càng đông và lan tràn ra khắp thế giới.
Cái khái niệm về sự tuyệt chủng đã không được loài người chúng ta hiểu và nhận thức một cách có hệ thống cho mãi tới cuối thế kỷ 18, và qua đó đã giúp cho chúng ta hiểu rõ hơn về hành động ăn uống một cách bừa bãi của chính mình và hậu quả của hành động đó. Mặc dù vậy sự tuyệt chủng do hậu quả của sự ăn uống của loài người đã không ngưng hay chậm lại mà ngược lại càng ngày càng tăng với hàng nhiều ngàn các loại động và thực vật cứ dần biến mất trong khoảng đầu thế kỷ 20.
Vậy vì sao chúng ta lại để cho những thứ thực phẩm mà loài người chúng ta yêu thích biến mất trước cặp mắt trần của chúng ta một cách vô ý thức? Và ảnh hưởng của những sự tuyệt chủng đó là thế nào và chúng ta rút ra được bài học gì để có thể tìm cách ngăn chận những sự tuyệt chủng khác trong tương lai? Có thể nói tất cả các loài động và thực vật sống ở trên trái đất này đã mang lại sự tươi đẹp hơn cho thế giới nơi chúng ta đang sống, đặc biệt là những loài động vật lớn, như loài cá voi biết hát có kích thước bằng một chiếc xe bus, loài chim đà điểu có đôi chân tựa như của loài khủng long có thể nhảy qua đầu ta một cách thật dễ dàng hoặc như giống kỳ nhông ăn thịt có lớp vẩy nhờn và to lớn như cá sấu, còn mang đến cho thiên nhiên sự sinh động và kỳ thú.
Ngoài sự tuyệt vời trong tất cả ý nghĩa mà chúng mang lại, những loài động vật lớn này còn đóng một vai trò hết sức quan trọng để giữ cho các hệ sinh thái trong thiên nhiên được quân bình. Theo kết quả một cuộc nghiên cứu được đăng trên tạp chí Conservation Letters hồi đầu năm cho biết có khoảng 60 phần trăm trong số các loài động vật lớn đó đang chết dần mòn trong tuyệt vọng. Các nhà khoa học tham gia trong cuộc nghiên cứu đã cho khảo sát số lượng của gần 300 loài động vật lớn đang sống rải rác trên khắp thế giới, và nhận thấy hiện tượng đang dần tuyệt chủng của một số loài. Theo nhận định của các nhà khoa học, có ít nhất 200 loài (khoảng 70 phần trăm) động vật lớn nhất thế giới đang gặp phải hiện tượng số lượng của chúng bị suy giảm, và hơn 150 loài đang đối diện với nguy cơ bị tuyệt chủng.
Mối đe doạ chính trong hầu hết các trường hợp suy giảm số lượng và tuyệt chủng trên là do bị loài người giết để lấy thịt và các bộ phận khác trên người chúng. Theo cách phân loại của các nhà khoa học, những động vật được xếp vào danh sách các loài động vật lớn khi trọng lượng của những loài này vượt qua mức bình thường trong chủng loại của chúng. Với động vật có vú, các loài cá sụn có vây (như cá mập và cá voi), và bất cứ loài nào nặng quá 100 ký thì được xem là những động vật lớn. Với những động vật lưỡng cư, như chim và bò sát, những loài nào nặng quá 40 ký cũng được xếp vào danh sách những động vật lớn. Nhờ cách phân loại này, các nhà nghiên cứu đã có được một danh sách bao gồm 292 loài động vật lớn. Trong số đó có những loài động vật lớn rất quen thuộc với chúng ta như: voi, tê giác, rùa khổng lồ và cá voi, cũng như một số loài chúng ta ít để ý tới như loài kỳ nhông khổng lồ sống tại Trung Quốc, là loài đang có nguy cơ bị tuyệt chủng và có trọng lượng có thể lên tới 65 ký.
Các nhà nghiên cứu sau đó đem so sánh kết quả phân loại của họ với “danh sách đỏ” của tổ chức Liên minh Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (IUCN) – kho dữ liệu quốc tế được thành lập để dùng đánh giá về mức độ của nguy cơ tuyệt chủng đối với hơn 60.000 loài động vật trên thế giới, và các nhà nghiên cứu đã xác định rằng các loài động vật lớn có nguy cơ bị tuyệt chủng cao hơn hết so với tất cả những loài động vật có xương sống khác. Nhận định trên về nguy cơ tuyệt chủng của những loài động vật lớn nhất trên thế giới hiện nay được cho là khá bất thường nếu đem so với khoảng thời gian 65 triệu năm tiến hoá vừa qua kể từ sau thời đại của loài khủng long, và lỗi này là do chính loài người chúng ta gây ra.
Trong một ý nghĩa nào đó, loài người chúng ta đang trở thành một loài săn mồi siêu đẳng. Bất cứ loài động vật nào có thể ăn được hay dùng vào một việc gì thì đều bị loài người săn bắt cho kỳ hết: từ những loài dưới nước như cá voi, cá mập, rùa biển, cá sấu cho đến những loài trên cạn như kỳ nhông khổng lồ, chim, sư tử, cọp, beo, gấu, voi, hươu cao cổ và tê giác. Một phần vấn đề của sự tuyệt chủng kia có xuất xứ từ một điều thực tế cho thấy là trong suốt năm thế kỷ qua loài người đã bỏ nhiều công sức để hoàn thiện các kỹ thuật và phương pháp săn bắn để cho phép chúng ta có thể tiêu diệt những loài động vật hoang dã ở một khoảng cách gần hơn. Trước đây người ta dùng cung tên để bắn con vật ở một khoảng cách xa nên khó trúng. Nay người ta có nhiều phương pháp đánh lừa để có thể tiến gần đến con vật hơn và dùng những loại vũ khí có độ chính xác hơn và vì vậy số động vật bị săn giết cũng ngày càng nhiều hơn. Người ta tính ra trong cùng khoảng thời gian này có 2 phần trăm loài động vật lớn đã bị tuyệt chủng, tương đương với khoảng 0.8 phần trăm tất cả các loài động vật trên trái đất.
Một ví dụ điển hình của việc săn bắt bừa bãi là loài kỳ nhông khổng lồ sống ở Trung Quốc, trước đây có khá nhiều sống rải rác trong khu vực trung thổ, dọc theo lưu vực sông Dương Tử, nhưng nay đang nằm trong số những động vật hoang dã có nguy cơ tuyệt chủng. Thịt của nó được xem như một thứ đặc sản rất được ưa chuộng tại một số vùng ở châu Á, và con vật này còn được các nhà khoa học coi như một thứ hoá thạch còn sống vì chúng là một trong số ít loài động vật cổ xưa nhất đã từng xuất hiện trên trái đất từ 170 triệu năm trước. Loài kỳ nhông này đang có nguy cơ bị tuyệt chủng không chỉ vì bị săn bắt mà còn vì lý do ô nhiễm và việc khai khẩn đất rừng. Trong khi đó loài đà điểu Somalia cũng bị săn bắt để lấy thịt, lông, da và trứng.
Ngoài việc săn bắt để lấy thịt, một số bộ phận trên cơ thể còn được người ta khai thác để làm thuốc trong y học cổ truyền của châu Á, chẳng hạn như mật gấu, cao hổ cốt, sừng tê giác… cũng gây ra nhiều thiệt hại cho các loài động vật lớn. Một điều may mắn là đã có nhiều quốc gia trên thế giới đã đưa ra một số luật cấm buôn bán và sưu tập những sản phẩm liên quan đến những loài động vật lớn có nguy cơ tuyệt chủng và đã mang lại một số thành công. Năm 1982, Uỷ ban Săn cá voi Quốc tế đã thông qua một lệnh cấm đối với việc đánh bắt cá voi thương mại, và đến nay đã có gần 90 quốc gia tuân thủ lệnh này. Kể từ đó đến nay đã có nhiều loài động vật có vú sống ở biển đang hồi phục số lượng trở lại.
Những việc làm ý nghĩa này đòi hỏi phải có được sự hợp tác và thi hành mang tính toàn cầu thì mới có cơ may thành công. Nếu như không có những nỗ lực ngăn cản, không sớm thì muộn rồi loài người chúng ta cũng sẽ ăn hết tất cả mọi loài động vật nào có thể ăn được trên trái đất. Ngẫm nghĩ lại mới thấy cái sự ăn uống của loài người chúng ta quả là đáng kinh thật.
Huy Lâm

You might also like