Làng Tôi

(Viết lại bài đã đăng năm 2016)

Làng tôi…
có cây đa cao ngất từng xanh
Có sông sâu lờ lững vờn quanh
Êm xuôi… về Nam …”

Con bé hát, tiếng trẻ hát vụng về, ngây thơ. Nghe thật dễ thương. Mẹ nó nghe vậy, hát theo con, cho nó vui. Con bé đưa mấy chữ “về Nam” cuối câu cao vút lên, nên khi hát sang câu kế tiếp thì mẹ nó hết theo nổi. Trẻ con có giọng cao, lại có hơi, cứ thế hát tiếp:
Làng tôi…
bao mái tranh san sát kề nhau
Bóng tre ru bên mấy hàng cau
Đồng quê mơ màng!”

Bà mẹ đành phải nuốt chữ, ráng mà ừ ư thành âm, để hát theo con mình, cho đến hết đoạn kế, rồi ôm con cuời thật hạnh phúc.

– Con hát hay quá!
Thằng Hai thấy vui lây, tấm tắc khen con. Nó khen rất thật lòng. Tiếng trẻ thơ, nhất là con mình, cho dù có hát vụng về lạc giọng; cứ nghe sao hay chi lạ.
Nó cười đó, nhưng nhìn vợ và con mà nghe mình đang nao nao, nước mắt. Tội nghiệp, vợ nó có biết hát hò chi đâu. Bà ấy chỉ thích bài hát Làng Tôi, từ thời còn nhỏ, cái thời còn được sống ở Việt Nam. Bây giờ, chỉ còn nhớ lõm bõm giọng điệu, dạy cho con hát tiếng Việt mình cho vui, cho ấm nhà, cho mình đỡ nhớ quê hương. Con bé hát theo, riết rồi quen.
Có điều, hai mẹ con chỉ biết có bài Làng Tôi và hát được có bốn câu mà thôi. Rỗi rãi, con rủ mẹ hay mẹ rủ con, ê a cùng nhau hát. Cứ thế, hát đi hát lại. Nhưng có sao đâu! Nghe hoài nhưng thằng Hai vẫn chưa thấy chán. Chừng như, lần nào cũng thế, bốn câu hát đã hết, hai vợ chồng nó ngó nhau mà lẳng lặng một lúc. Cái gì đó như là bâng khuâng, xao xuyến, làm sao ấy. m hưởng của giai điệu và lời nhạc cứ bàng bang, mênh mang trong lòng người ly hương mình.
Thì cũng phải!
Năm 1952, bản nhạc Làng Tôi của Chung Quân đã đoạt giải Kim Chung, được chọn làm nhạc nền cho phim Kiếp Hoa, thắng các sáng tác của các bậc đàn anh và sư phụ, khi ông nhạc sĩ này mới mười sáu tuổi thì phải biết!
Hay thật, thằng Hai ngẫm nghĩ.
Hơn nửa thế kỷ rồi, chứ ít oi gì!
Bây giờ, bài hát Làng Tôi càng thấm thía, nát lòng người tha hương hơn.
Thằng Hai và vợ nó đều lớn lên ở thành thị. Hai đứa không biết nhiều về thôn quê, không có nhiều kỷ niệm sống và lớn lên trong thôn làng. Nó may mắn hơn, được năm bảy lần chi đó, theo cha về vườn, để thăm viếng mộ phần ông bà. Nhưng, mấy chữ “làng tôi”, giờ trên đất nước mình định cư, nghe sao… có cái gì đó thật gần gũi, hay hay, quyến luyến, trong lòng hai vợ chồng nó lắm.

Hồi trước, khi trong thôn vườn còn yên giặc; mùa nghỉ hè, mấy anh em nó theo cha mẹ về đó chơi, vài ba hôm mới trở lên tỉnh. Sau này, đêm xuống, thì làng mình thường bị cái đám quân xưng danh là “cách mạng”, mà bà con trong làng hay gọi xách mé là “đồ quỷ quái”, kéo về quấy rầy, phá nát yên bình của xóm làng. Đêm đấu tố và thủ tiêu. Họ lùng bắt và giết người rất là kinh hoàng.
Cứ xem, bà Năm ở Làng Bưởi, Hà Nội, chủ hiệu buôn Cát Hanh Long ở Hải Phòng, thì đủ biết cái dã tâm và man rợ của các đội quân này.
Bà Năm-Cát Hanh Long đã được “cách mạng” tâng bốc, đưa cho lên đến chín tầng mây; bà được phong tặng là “Mẹ chiến sĩ”, vì có công đóng góp tài sản cho quân cách mạng và nuôi ăn giúp đỡ cho những người sau này thành những bí danh, những cái tên rất là danh tiếng, đầy quyền lực trong đảng… Bà còn góp cả hai đứa con trai là Nguyễn Cát và Nguyễn Hanh, vào đội quân của “cách mạng”, và chính bà được phong cho làm Hội Trưởng Hội Liên Hiệp phụ nữ Việt Nam của tỉnh Thái Nguyên.
Và rồi quân “cách mạng” chiếm được miền Bắc của nước Việt Nam mình!
Rốt cuộc, cũng chính bà Năm-Cát Hanh Long “Mẹ chiến sĩ”, lại trở thành nạn nhân đầu tiên bị xử tử làm gương, theo chính sách vô cùng man rợ; gọi là “Trí-phú-địa-hào, đào tận gốc-trốc tận rễ”, của đảng và cái nhà nước “cách mạng” này.
Chính sách man rợ!
Quân man rợ giết người càng man rợ hơn!
Trong hồi ký Đèn Cù, tác giả Trần Đĩnh có ghi lại cuộc hành quyết bà Năm-Cát Hanh Long, cũng là bà “mẹ chiến sĩ” của “cách mạng”; qua lời kể của Tiêu Lang, phóng viên báo Cứu Quốc, thuộc đội quân cải cách như sau:
“Khi du kích đến đưa bà ta đi, bà ta đã cảm thấy có gì, nên cứ lạy van:
“các anh làm gì thì bảo em trước, để em còn tụng kinh.”
Du kích quát:
“đưa đi chỗ giam khác thôi, im!”
Rồi bà ta vừa quay người, thì mấy loạt tiểu liên nổ ngay sát lưng.
Mình được đội phân công ra Chùa Hang mua áo quan, chỉ thị thì là chỉ mua áo tồi nhất. Và không được lộ là mua để chôn địa chủ. Sợ nói như thế, sẽ đề cao uy thế, uy lực địa chủ mà. Khổ tớ, đi mua cứ bị nhà hàng thắc mắc: “chưa thấy ai đi mua áo quan cho người nhà mà cứ đòi cái rẻ tiền nhất.”
Cái áo quan mua được, thì giờ không cho bà ta vào lọt.
Du kích, mấy người bèn đặt bà ta nằm trên miệng cỗ áo, rồi nhảy lên vừa giẫm, vừa hô:
“Chết còn ngoan cố này! Chết còn ngoan cố này!.. Ngoan cố nổi với các ông nông dân không này?”
Nghe xương kêu răng rắc, mà tớ không dám chạy, sợ bị quy là thương địa chủ…
Cuối cùng bà ta cũng vào lọt, nằm vẹo vọ như con rối gẫy vậy!.”

“Trí-phú-địa-hào, đào tận gốc-trốc tận rễ”
Đó là khẩu hiệu kinh khiếp, trong thời “cải cách ruộng đất” của nhà nước.
Thầy Chín thừa biết thân phận của mình!
Mình làm nghề thầy giáo, thì bị đảng kết vào loại “trí”, tức là kẻ thù số một. Thầy được xếp tận trên cùng, thì chắc chắn phải bị “đào tận gốc, trốc tận rễ”. Đào và trốc kiểu này thì chết là cái chắc!
Cho nên, mấy năm sau này, thầy Chín chỉ còn ráng cầu may, ban ngày ban mặt, lén đạp xe về thăm viếng mộ cha mẹ mình, trong chốc lát rồi quay về tỉnh ngay.

BRA200258_local_728x90_A

Nhớ hồi đó, thằng Hai khoái được ngồi trên cái yên xe phía sau, cho thầy Chín đạp chở đi đây đó lắm. Chuyến đi về vườn thăm mộ ông bà, nó xa xôi nhất; được thầy Chín chở cho đi chơi lâu như vậy, nó chịu lắm. Rời thành phố càng xa, xe cộ càng thưa vắng hơn. Khung cảnh hai bên đường yên bình, tươi vui với ruộng đồng mênh mông, cùng các rặng cây xanh. Nắng mùa Hè như dịu mát, dễ chịu hơn. Nét đẹp hiền hòa, đơn sơ, từ ngọn lúa, lá tre xôn xao trong gió, đến con đường mòn khúc khuỷu, bên dòng sông quanh co êm đềm uốn lượn.
Đây, làng tôi!

Làng tôi…
có cây đa cao ngất từng xanh.
Có sông sâu lờ lững vờn quanh
êm xuôi về Nam.
Làng tôi…
bao mái tranh san sát kề nhau.
Bóng tre ru bên mấy hàng cau.
Đồng quê mơ màng!

Thế rồi!
Một lần về thăm vườn, thằng Hai không hiểu hết ngọn ngành, nhưng biết là lần này chỉ đi đến chợ làng mà thôi.
Nó thấy thầy Chín nói chuyện với mấy người trong làng, bên dưới đoàn ghe chạy trốn Việt cộng, đậu cập bờ sông. Rồi thầy quay chiếc xe đạp hướng về thành, bảo nó:
– Mình về nhà, con!
Thằng Hai nghe lời cha, leo lên yên xe ngồi.
Hồi đi vui bao nhiêu, bây giờ quay về buồn bấy nhiêu. Buồn còn hơn thế!
Thấy thầy Chín yên lặng đạp xe, nó cũng không còn thấy gì vui. Thầy Chín đạp xe về trông buồn quá, nó không dám nói hay hỏi han chi thêm.
Cũng từ mùa hè năm ấy!
Đó là lần sau cùng về thăm vườn, mộ phần ông bà. Từ đó, thầy Chín không còn đạp xe chở nó về vườn chơi được nửa.

Thật vậy!
Sáu mươi tám năm rồi, chứ ít oi gì, lời bài hát “Làng Tôi” bây giờ càng thấm thía, nát lòng người tha hương hơn.

Nhưng than ôi!
Có một chiều Thu, lá thu rơi.
Có một chiều Thu, lá thu rơi.
Ôm súng nhìn quê, tôi thầm mơ bóng… ngày về.

Mơ trông… bóng ngày về.
Quê tôi, chìm chân trời mờ sương.
Quê tôi, là bao nguồn yêu thương.
Quê tôi, là bao nhớ nhung se buồn.
Là bao vấn vương…
tâm hồn…
người bốn phương.”

Vậy đó!
Hơn 45 năm rồi!
Thằng Hai nôn nao mơ một ngày về.
Ngày về thăm lại “làng tôi”, với tro tàn của thầy Chín.
Nó mơ một ngày:
Đêm tàn, ngày rạng,
Rực nắng ban mai.
Con đường tôi về,
Có hàng phượng đỏ,
Mùa hè thắm tươi,
Áo trắng học trò,
Chân bước tự do!

Hè 2020
Bùi Đức Tính

More Stories...