Thời Báo Vietnamese Newspaper

30-4-1975 và chuyện người Canada di tản khỏi Sài Gòn

Phan Hạnh

Tuần cuối của Tháng Tư định mệnh ấy, khi những chiếc chiến xa của cộng quân từ hướng Bắc nghiến xích rầm rập tiến về vành đai thủ đô Sài Gòn, giới chức ngoại giao Canada gấp rút lo sắp xếp việc di tản. Giữa bầu không khí hoang mang hỗn loạn, Tòa Đại Sứ Canada nằm trên đường Nguyễn Du và các viên chức ngoại giao Canada đang khổ sở tìm cách giúp đỡ các nhân viên người Việt và thân nhân gia đình họ cùng di tản. Trở ngại là Canada không có phương tiện vận chuyển dồi dào như Hoa Kỳ.

Điều làm cho phóng viên Peter Kent của đài CBC có mặt ở Sài Gòn lúc bấy giờ thắc mắc và thất vọng là trong khi đó, Tòa Đại Sứ Canada lại ưu tiên lo thu xếp di tản đồ đạc, nhất là chiếc xe limousine màu đen với bảng số ngoại giao đoàn. Theo Kent nghĩ, nhân viên người Việt của phái bộ ngoại giao Canada ở Sài Gòn nếu bị kẹt ở lại cũng sẽ bị Cộng quân đối xử xấu hoặc hành hạ giống như tất cả quân nhân công chức VNCH.

Kent có mặt tại Tòa Đại sứ Canada trên đường Nguyễn Du khi quốc kỳ hình lá phong của Canada được hạ xuống lần cuối vào ngày 24 tháng 4 năm 1975; Kent tự hỏi là còn bao lâu nữa cuộc chiến sẽ kết thúc, và sẽ kết thúc ra sao?
Ngày hôm đó, Kent thấy những người Việt xếp hàng hàng giờ để xin thị thực chiếu khán tị nạn. Trong số họ, nhiều người có người thân đang sống ở Montréal. Cuối ngày, nhân viên Tòa Đại Sứ đặt một tấm bảng có ghi chữ “COME BACK TOMORROW”. Và ngày hôm sau đó không bao giờ có.

Kent biết Việt Nam khá rành vì đã đến Việt Nam công tác lần đầu tiên từ năm 1966, đi từ đồng bằng sông Cửu Long lên đến tận khu phi quân sự ở Quảng Trị với tư cách là một phóng viên mới vào nghề làm việc cho đài CFCN-TV ở Calgary. Với chiếc máy quay phim 16mm lên dây cót bằng tay, Kent, 23 tuổi, đến Việt Nam trong chuyến đi công tác đầu tiên ở ngoại quốc.

Canada cấp hàng ngàn giấy chứng nhận cho người Việt Nam nhập cảnh Canada, nhưng họ phải tự lo liệu phương tiện ra đi vì Canada không có kế hoạch di tản người Việt. Người cầm đầu Phái bộ Ngoại giao Canada ở Sài Gòn lúc bấy giờ là ông Xử Lý Thường Vụ (Chargé d’Affaires) Ernest Hebert. Ông bị nghe những lời trách móc của dư luận không ít nhưng ông không biết phải giải thích ra sao. Mọi quyết định là do chính phủ Ottawa.

Các bản tin của nhóm phóng viên Canada từ Sài Gòn gởi về nước và chiếu trên các đài truyền hình cho thấy chiếc xe limousine của sứ quán đang được đưa lên máy bay vận tải Hercules trong khi những nhân viên người Việt năn nỉ xin đi theo nhưng bị từ chối. Những thùng đựng các món đồ vật của sứ quán cũng được đưa lên máy bay chở về Canada. Theo tin tức phát thanh của Canada từ Sài Gòn, với những người Việt đã xin được visa Canada vào ngày 24 tháng 4, nhân viên sứ quán bảo họ hãy trở lại đó vào ngày hôm sau để tính chuyện di tản, mặc dù các giới chức Canada đều biết rằng ngày sau đó sứ quán sẽ bị đóng cửa.

Những tin tức và hình ảnh đó đã làm cho dư luận dân chúng Canada sửng sốt và bất mãn. Các dân biểu thuộc đảng đối lập do John Diefenbaker cầm đầu trong quốc hội ở Ottawa lên tiếng chỉ trích mạnh mẽ. Diefenbaker lớn tiếng hỏi Pièrre Trudeau: “Lúc đó Canada ở đâu. Dân châu Á sẽ chỉ tay trách móc nước của ông mà cũng là nước của tôi.”
Trước phản ứng đó, ngày 26 tháng 5, Bộ trưởng Ngoại giao Allan J. MacEachen bắt buộc phải lên tiếng và đã đưa ra một tuyên bố dài nhằm bào chữa cho hành động của nhân viên Tòa Đại sứ Canada ở Sài Gòn đã không di tản nhân viên người Việt và gia đình của họ.

Ông nói Hoa Kỳ có một vị thế và một vai trò đặc biệt ở Việt Nam; những gì Hoa Kỳ làm được có thể lại không phù hợp với Canada. Ông nói rằng trong những năm qua, Canada đã không muốn chia sẻ sự đóng góp tham gia quân sự với Hoa Kỳ tại Việt Nam; do đó, hậu quả là Canada không thể đòi hỏi quyền hành động độc lập đi kèm với sự tham gia đó.
MacEachen giải thích thêm rằng những người Việt Nam muốn di tản ra khỏi nước đã không thể xin giấy phép xuất cảnh từ chính quyền Sài Gòn. Sự giải thích đó của ông đã bị các dân biểu đối lập tại Hạ viện bác bỏ; họ cáo buộc là Canada thiếu lòng nhân đạo hơn so với Hoa Kỳ về vấn đề nhận người di tản Việt Nam vì Hoa Kỳ dám bất chấp quy tắc và thủ tục hành chánh rườm rà. MacEachen đáp rằng trong khi những người Việt Nam làm việc cho Hoa Kỳ có thể bị cho là đang gặp nguy hiểm bởi cộng sản trả thù, những nhân viên làm việc cho Canada thì không. Ông nói không có bằng chứng hợp lý nào cho thấy là người Việt hợp tác với Canada bị lâm nguy cả.

Trước ngày Sài Gòn thất thủ, Canada đã cấp 1.100 giấy chứng nhận tính cách thường trú nhân “landed immigrant” cho người Việt đang có thân nhân ở Canada. Làm cách nào có thể rời khỏi Việt Nam để đặt chân lên đất Canada là tùy họ; Canada không thể giúp. Số người đi được thành công chắc chắn là ít hơn con số 1.100 đó. Ngay sau khi Cộng quân chiếm Sài Gòn, Canada cũng chấp thuận tính cách thường trú nhân cho thêm 4.000 người Việt nữa, đa số họ là sinh viên du học đang “kẹt” ở Canada và xin ở lại.

Trong số hàng trăm ngàn người tỵ nạn được Hoa Kỳ di tản khỏi Việt Nam trong tháng Tư 1975, có khoảng 2.000 người được Canada nhận cho định cư. Canada cũng nhận thêm 1.000 người Việt tỵ nạn tự túc.

Sự sụp đổ của Sài Gòn vào tháng 4 năm 1975 đã đánh dấu chương cuối cùng về sự can dự của Hoa Kỳ vào Việt Nam. Peter Kent và các bạn đồng nghiệp Canada làm việc đến giờ phút cuối ở Sài Gòn đều nói rằng họ sẽ không bao giờ quên được sự nguy hiểm và tình trạng hoang mang hỗn loạn khi cuộc di tản diễn ra. Bốn mươi năm sau, đôi khi thức giấc nửa đêm, Kent vẫn còn nghĩ mình đã may mắn biết chừng nào mới thoát ra khỏi Việt Nam trong lúc đó.


Hình: Từ trái sang phải, phóng viên tờ Globe and Mail Malcolm Gray, chuyên viên thu hình đài CBC Ian Wilson, chuyên viên thu hình đài CTV Louis de Guise và phóng viên CBC Peter Kent đang ngồi chờ đợi bên cạnh hồ bơi của Tòa Đại sứ Canada ở Sài Gòn, ngày 24 tháng 4 năm 1975. (Louis de Guise)

Một tuần trước khi người Mỹ di tản khỏi Sài Gòn, toàn thể nhân viên công chức Toà Đại sứ Canada và thường dân Canada ở Việt Nam đều muốn di tản bằng đường hàng không. Nhưng Canada chỉ có một chiếc vận tải cơ Hercules C-130, ưu tiên đưa các nhà ngoại giao và xe của Đại sứ quán ra khỏi Việt Nam. Quyết định không hợp lý hợp tình này đương nhiên đã gây nhiều tranh cãi, bất bình vì nó có nghĩa là đã quý trọng vật chất hơn sinh mạng con người. Nhiều người Việt đã có giấy công nhận tính cách thường trú nhân Canada phải ngậm ngùi thất vọng.
Trong một bài tường thuật gởi đi từ Sài Gòn ngày 24 tháng Tư 1975, Kent viết rằng “Một số người ở đây xem đó là một hành động không làm tròn nghĩa vụ của Canada”. Theo Kent, các viên chức ngoại giao Canada quá cứng nhắc dựa theo quy tắc, đòi hỏi điều kiện người Việt muốn được di tản phải có giấy phép xuất ngoại của Bộ Nội Vụ Việt Nam. Trong những ngày dầu sôi lửa bỏng cấp bách như vậy, chuyện xin được giấy phép xuất ngoại là điều hầu như bất khả thi. Người Mỹ đã phớt lờ quy tắc đó; những người Việt nào có visa Canada đều được người Mỹ cho di tản bằng máy bay của họ.

Hình: Hai phóng viên của CBC là Peter Kent và Mike Duffy đang lắng nghe ông Ernest Hebert giải thích về kế hoạch di tản ngày 24 tháng 4 năm 1975. (CBC)

Sau khi các nhà ngoại giao Canada đã rời đi và trụ sở Tòa Đại sứ trên đường Nguyễn Du Sài Gòn đã đóng cửa, phóng viên Peter Kent và các nhân viên CBC khác đã khuyên đám đông người Việt còn kiên nhẫn đứng bên ngoài rằng họ hãy đến các đại sứ quán khác để may ra có thể được giúp đỡ.

Ở lại Sài Gòn trong những ngày cuối cùng của tháng Tư 1975, Kent và nhóm phóng viên truyền hình của CBC và CTV từ chỗ trú ngụ là khách sạn Caravelle đã thuê taxi đi đến các nơi quan trọng trong thành phố để lấy tin tức và làm phóng sự. Chuyên viên thu hình cho CTV là Louis deGuise kể rằng phóng viên Henry Champ cùng toán với mình định sẽ gọi đặt thức ăn trưa và bia lạnh chung với taxi vì họ thường ra ngoài làm việc cả ngày. Nhưng khi quân đội Bắc Việt tiến gần đến Sài Gòn, các nhà báo bắt đầu dành nhiều thời gian quanh quẩn trong trung tâm thủ đô hơn.
Kent kể là ngày 27 tháng 4, Kent đến Dinh Độc Lập để dự lễ nhậm chức tổng thống của tướng Dương văn Minh, xong từ đó anh đi bộ đến phòng thu âm PTT (viết tắt của “Press-to-talk”, một hệ thống liên lạc qua radio; người dùng nhấn một công tắc đặc biệt trên máy vi âm khi họ muốn nói chuyện, đây được gọi là công tắc “bấm để nói” hoặc PTT). Tại đó Kent sẽ báo cáo trực tiếp qua làn sóng điện và làm một cuộc phỏng vấn cho CBC Radio News.
Giữa lúc Kent đang tường trình tin tức qua làn sóng điện thì nghe tiếng bom nổ khá gần. Không biết chuyện gì đang xảy ra, Kent giật mình và cùng với người được phỏng vấn phải vội bò dưới bàn làm việc trong phòng thu. Cuộc phỏng vấn phải bỏ dở dang. Ngày hôm sau, phóng viên của đài CBC Mike Duffy rời Sài Gòn đi Hong Kong trên chuyến bay thương mại cuối cùng cất cánh từ sân bay Tân Sơn Nhứt của Sài Gòn đang bị cộng quân sắp chiếm.

Khi đã đến được Hong Kong, Duffy mới kể lại với Barbara Frum là người điều khiển chương trình phát thanh “As It Happens” phỏng vấn thời sự hàng ngày của đài CBC Radio News. Duffy kể là đầu tiên anh ta phải hối lộ một món tiền 150 đô la Mỹ để nhận được thẻ lên máy bay; những hành khách khác còn phải trả nhiều hơn. Sự việc này làm mất mấy tiếng đồng hồ. Sau đó tới vụ trục trặc đổ xăng. Nhân viên của nhà thầu Mỹ cung cấp nhiên liệu máy bay ở phi trường Tân Sơn Nhứt đòi chuyến bay Air Vietnam phải trả trước tiền xăng và phải trả bằng tiền mặt.

Trong khi đó, các phi cơ của Không Lực VNCH đang ném bom các vị trí của cộng quân ở vòng đai phi trường. Duffy kể với Frum là đạn hỏa tiễn của cộng quân pháo kích rơi gần sát rìa phi đạo. Kết thúc cuộc phỏng vấn, Duffy nói với Frum là hãy chờ xem rồi đây sẽ có hàng ngàn ghe thuyền đủ loại đủ cỡ lớn nhỏ chạy ra Biển Đông để tìm tàu chiến Mỹ hay tàu của bất kỳ quốc gia nào trên vùng biển; làn sóng người tỵ nạn muốn trốn chạy khỏi cộng sản. Làn sóng “thuyền nhân” đã bắt đầu.

Sáng hôm sau, Kent cho biết nhóm phóng viên CBC, vẫn còn ở Sài Gòn, lái xe đến sân bay để săn tin sốt dẻo trong ngày. Kent mở radio xách tay để theo dõi nghe phát thanh của đài Quân đội Hoa Kỳ. Kent muốn theo dõi lắng nghe kỹ để biết mật mã của cuộc di tản Mỹ; nó sẽ xảy ra lúc nào, ở những địa điểm nào.

Nhóm bốn nhân viên của đài CBC công tác ở Sài Gòn gồm phóng viên Peter Kent, thu hình viên Ian Wilson, nhà sản xuất George James và phóng viên Colin Hoath đã cùng hội ý với nhau đêm hôm trước. Họ thảo luận về việc có nên tiếp tục ở lại cho đến khi cộng quân tiếp quản Sài Gòn hay không. Rốt cuộc họ cũng không thể quyết định.
Trong khi đó, hai nhân viên của đài CTV là Champ và deGuise quyết định rời khỏi Việt Nam sau khi họ đã quay được nhiều thước phim làm tài liệu cho chương trình truyền hình W5. deGuise nói tốt hơn là họ nên về lại Canada sớm để phát sóng câu chuyện thời cuộc nóng bỏng.

Đó là ngày 29 tháng Tư. Họ đã lên một chiếc xe buýt do Tòa Đại sứ Hoa Kỳ cung cấp, chiếc cuối cùng đưa mọi người đến sân bay. Khi họ đến nơi, deGuise kể rằng sân bay đã đóng cửa và đang có vài đám cháy. Sau đó, xe buýt của họ còn bị bắn nữa khiến cho mọi người trong xe phải cúi gập người để tránh đạn trong khi các cửa sổ xe buýt bể văng miểng rổn rảng tứ tung.

Không thể vào sân bay, tài xế xe buýt của họ quành xe lại và lái chạy thẳng đến Bến Bạch Đằng. deGuise kể lại: “Ở đó, người tài xế nhận được chỉ thị của cấp trên hãy bỏ chúng tôi xuống để chúng tôi tự tìm tàu để ra đi.” deGuise kể lại là lúc đó khung cảnh bến tàu thật hỗn loạn; người ta chen chúc nhau để lên tàu, người sau kéo người trước để rồi cả hai đều rơi xuống sông.

Khung cảnh xung quanh xe buýt cũng hỗn loạn không kém. Hành khách trên xe chứng kiến cảnh tượng ở bến tàu hỗn loạn như vậy nên thuyết phục tài xế hãy đưa họ đến Tòa Đại sứ Mỹ. Nhưng xe buýt có chạy được đâu bởi vì nhiều người tại bến tàu cũng đang cố tìm cách leo lên xe buýt đã đầy rồi. Champ, vốn đô con và có sức mạnh, đứng trước đầu xe buýt để xua đám người hãy tránh ra cho xe chạy. Xe từ từ lăn bánh nhưng không ngờ có một phụ nữ cố bám vào lưới kim loại che cửa sổ xe buýt. Người phụ nữ đó sút tay té xuống đường và bị cán. deGuise kể thế là xe buýt làm chết một người.
Về phần các phóng viên của CBC, khi nhìn thấy cảnh tượng tại sân bay, họ liền bảo tài xế quay xe trở lại trung tâm thành phố. Các điểm tập hợp cho cuộc di tản mà họ ghé qua đều đông nghẹt người và hỗn loạn. Họ hướng đến Tòa Đại sứ Hoa Kỳ với những gì họ đang mang theo, dự định sẽ rời khỏi Việt Nam và bỏ lại tất cả những đồ đạc của họ còn để tại phòng khách sạn. Kent kể: “Sau cùng chúng tôi cũng vượt qua được đám đông, lúc đó hầu như đã hết kiểm soát nổi, và lọt được vào bên trong sứ quán.”

Rốt cuộc rồi cả hai nhóm phóng viên của CBC và CTV đều đến được Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ Sài Gòn để di tản. Họ đều hầu như phải bỏ lại hết tất cả đồ đạc. deGuise khoái chí khoe rằng anh ta đã trèo lên tường bằng một tay với chiếc máy quay phim CP15 kềnh càng, một chiếc ba lô chứa đầy hộp đựng phim chưa tráng và hai máy ảnh đeo quanh cổ. Phải gian nan lắm mới vượt qua được bức tường. Người này phải nắm quần áo của người kia để leo lên.
Đứng dọc theo bên trong bờ tường là thủy quân lục chiến Mỹ kiểm tra giấy tờ từng người, điều mà ít người nào có đủ. Đối với người có đầy đủ giấy tờ thì thủy quân lục chiến sẽ giúp đỡ vào trong; người nào không có giấy tờ chứng minh thì bị họ đánh vào tay bằng báng súng M-16. Còn đối với deGuise và Champ, họ chỉ nhìn thấy người da trắng là cho vào không cần hỏi.

deGuise kể bên trong sứ quán, thủy quân lục chiến Mỹ xét từng người. Người nào có mang súng cá nhân thì họ tịch thu súng và ném xuống hồ bơi, cả đống súng dưới đáy hồ. Tuy trong lúc deGuise leo tường, hai máy ảnh đeo trên cổ đã rơi mất, nhưng chàng còn cái máy quay phim. Không bỏ lỡ cơ hội nghề nghiệp, deGuise mở máy quay thu lại hoạt cảnh di tản. Trong khi đó, Kent chứng kiến cảnh nhân viên Tòa Đại Sứ đang đốt cả núi tiền bằng lò thiêu.
Cạnh lối vào cổng chính trước Tòa Đại sứ trên Đại lộ Thống Nhất có một cái cây to cao lớn. TQLC Mỹ đòi đốn cây đó để phi cơ trực thăng loại lớn có thể đáp xuống sân dưới đất nhưng Đại sứ Graham Martin không cho phép đốn, mặc dù việc đốn cây rõ ràng là cần thiết trong những ngày cuối cùng của cuộc di tản lịch sử. Sau đó nghĩ lại ông mới chịu cho đốn cây đó.

Trong lúc đứng trên sân thượng Tòa Đại sứ để chờ đến lượt được trực thăng bốc, phóng viên Colin Hoath gọi phôn cho vợ là Sandy ở Hong Kong để báo tin là nhóm CBC sắp di tản bằng chuyến trực thăng cuối cùng, lý do là vì ngày trước đó Hoath đã nói với vợ là anh ta sẽ ở lại Sài Gòn xem quân Bắc Việt tiến vào thành phố.
Ngay sau đó, Champ và deGuise lên một chiếc trực thăng lớn. Từ một ô cửa trong Tòa Đại Sứ Mỹ, Kent đưa mắt nhìn chiếc trực thăng đang cất cánh. Con chim sắt nặng nề cố nhấc chân lên, chồm về phía trước một chút nhưng không thể rời khỏi mặt đất. Nó chất quá nặng, giờ buộc nó phải bỏ bớt khoảng 30 người. Thế rồi nó bay lên, rời khỏi bầu trời nhiều bất trắc để ra Biển Đông, nơi Hạm Đội 7 đang chờ đợi.

Kent và các bạn đồng nghiệp đã dẹp bỏ kế hoạch ở lại và leo lên một chiếc trực thăng vào tối hôm đó. Chiếc trực thăng cuối cùng cất cánh từ nóc tòa đại sứ khoảng 8 giờ sáng. Đó là ngày 30 tháng Tư. Bốn giờ sau, xe tăng Bắc Việt đã đâm sầm qua cổng Dinh Độc Lập, nơi tổng thống Dương văn Minh chờ đợi để đầu hàng. Thế là hết. Những người Canada từng làm việc ở đất nước Việt Nam Cộng Hòa đã rời đi như thế.

Phan Hạnh

(Tổng hợp từ “Canadians pull out of Saigon, Vietnam”, “The fall of Saigon: how CBC, CTV covered the 1975 events” của CBC; “Canada Defends Act of Leaving Vietnamese Employes in Saigon” của New York Times; “The Ambassador’s Limousine” trên Blaclocks)

Comments are closed.

error: Content is protected !!