Thời Báo Vietnamese Newspaper

Remember!

Bùi Đức Tính

Tháng ngày chuyển vào giữa mùa Thu. Thu Canada đẹp, thơ mộng và lạnh. Mấy hôm mới sang mùa Thu, chưa tròn một tuần, nhiệt độ thay đổi thật nhanh, làm lá ngỡ ngàng vàng úa, lao chao rơi rụng. Tiết trời có hôm xuống đến 9 độ C. Có lẽ, khi mùa Thu sang, cái lạnh khác hẳn với hồi tuần trước hãy còn nắng ấm, ấm đến 20 độ, làm người ta thấy quá lạnh, nên lo lắng bảo nhau là mùa Đông năm nay chắc lạnh hơn năm trước! Nói rồi, mới sực nhớ lại, sao năm nào mình cũng dự đoán thời tiết y như thế!
Sau ngày Lễ Tạ Ơn, chỉ còn đôi tuần ngắn là cuối tháng Mười, rồi bước sang tháng Mười Một. Ngày 25 là ngày thứ Sáu cuối cùng của tháng Mười. Từ thứ Sáu này, những cánh hoa “Poppy” được trang trọng cài lên trên áo; ít nhất mười một ngày, trước Lễ Remembrance Day, vào ngày 11 tháng Mười Một, để tưởng nhớ đến những người đã nằm xuống cho Tự Do của nhân loại.
Trong các tuần trước Remembrance Day, chương trình TV nơi đây, thường cho chiếu lại phim về thời Đại Thế Chiến; có các phim trắng đen hồi xưa như The Longest Day, Battleground, The Train… có phim màu như: The Dirty Dozen, The Great Escape, The Bridge on the River Kwai,…
The Longest Day và The Bridge On The River Kwai, là hai bộ phim về thời kỳ Thế Chiến, có chiếu ở miền Nam trước đây, với tên phim bằng tiếng Việt là Ngày Dài Nhất và Cầu Sông Kwai; phim có phụ đề chữ Việt.
Hôm đi xem phim, bọn trẻ chúng tôi cứ tưởng là mình đi sớm; khi đến rạp hát, chưa tới giờ bán vé, hàng người chờ mua vé đã dài tận góc đường rồi. Hồi đó, các rạp hát thường có họa sĩ vẻ các bích chương trên vải, để quảng cáo cho phim đang chiếu và phim sắp chiếu. Hình lớn, nhỏ tùy theo hạng phim, thị hiếu. Đứng chờ, cũng không chán, vì có dịp ngắm nghía, bàn tán với nhau về hình các tài tử chính như John Wayne, Robert Mitchum, Sean Connery, Henry Fonda … cao lớn gắp ba người thật, trong quân phục tác chiến; trông phong sương và thật oai hùng. Nhưng hình cái nón sắt nằm ngửa, chơi vơi, đơn độc trên bờ biển đang cuộn sóng, trông thật buồn. Bác thợ vẻ của rạp chắc đã gởi hết lòng mình trong từng nét cọ trên khung vải. Hình cái nón sắt sống động quá; làm bọn trẻ chúng tôi, dù chưa biết gì về chiến trận, nhìn nhau im lặng, ngậm ngùi.
Bộ phim Ngày Dài Nhất kể về D-day, ngày lịch sử, với hơn 300 ngàn quân lính đã đổ bộ vào bờ biển Normandy, nước Pháp. D-day đánh dấu điểm khởi đầu cho thảm bại của phát xít Đức. Phim Ngày Dài Nhất đứng vị trí thứ nhất trong 50 phim chiến tranh hay nhất mọi thời đại.

The Longest Day có nhạc phim chính rất hào hùng, được dùng trong các cuộc diễn hành của Canada và các nước Đồng Minh hiện nay. Nhạc và lời của Paul Anka. Anh là một ca sĩ, nhạc sĩ Canada và thủ vai một US Army Ranger trong phim. Khúc quân hành của Paul Anka có lời thật cảm động:
“Many men won’t see the sunset. When it ends, the longest day…”
Thật vậy, chỉ trong 24 giờ, có đến 1,465 quân nhân bị tử thương, hơn sáu ngàn thương binh và gần hai ngàn người bị mất tích!

Sau 5 ngày tham chiến, hơn 200 ngàn binh sĩ bị thương; trong đó, lực lượng Canadian có gần 19 ngàn người bị thương và hơn 5 ngàn quân nhân hy sinh!
Hồi đó, bản nhạc Ngày Dài Nhất cũng rất được ưa chuộng tại miền Nam, Việt Nam, do Jo Marcel hát bằng tiếng Pháp và tiếng Việt. Thời mới lớn, được xem phim, nghe Paul Anka hát, rồi nghe Jo Marcel hát. Cả hai đều có nhịp điệu oai hùng, nhưng nghe Jo Marcel trình bày có phần thích hơn, vì có đoạn huýt gió rất là độc đáo. Đám con trai nghe nhạc, tự dưng chu mỏ, làm như huýt gió theo. Nhưng, xấu hổ lắm, không đứa nào đủ can đảm để phát ra thành tiếng cả. Khúc quân hành làm tuổi trẻ ngước nhìn màu áo trận, lòng ngưỡng mộ những người lính can trường, đã và đang bảo vệ cho tự do của miền Nam mình. Lời nhạc tiếng Việt cũng rất hùng tráng, cảm động:

“Đoàn quân đi, chí trai cho nhân loại
Đoàn quân đi, sử vang vang rền
Đoàn quân đi, theo nhịp đi bước dồn
Bước, bước theo ngày dài ngất ngây

Kề vai nhau, bước chân nối bao người
Ngoài biển khơi, giữa nơi phố phường
Hẹn gặp nhau khi hoàng hôn xuống dần
Những trái tim chào mừng chiến công

Bàn chân ta bước, bước đi chập chùng
Ôi chân bước, bước trong ngày dài
Bao xương máu hiến cho cuộc đời
Và ngàn sau chiến công còn dài

Ngày thành công bước chân ta tan dần
Triệu con tim vẫn đang kêu gào
Đường vinh quang, xây thành xương máu mình
Những máu xương, ôi bao nhiêu đồng đội chúng ta!

Phim Cầu Sông Kwai có truyện phim về cảnh tù binh Đồng Minh bị quân đội Đế quốc Nhật Bản buộc phải xây tuyến đường sắt Miến Điện, trong chiến tranh Thế giới Thứ hai. Phim đoạt giải Oscar năm 1957. Do ý nghĩa và giá trị của phim, Cầu Sông Kwai đã được chọn bảo quản tại Viện lưu trữ phim quốc gia Mỹ của Thư viện Quốc hội Mỹ, năm 1997.
Phần mở đầu của phim Cầu Sông Kwai, khởi từ một trại tù trong rừng.

Rừng phủ trùm núi. Núi rừng trùng trùng. Cánh chim tìm mồi lặng im sải cánh lượn vòng, cao bên trên ngọn cây. Thỉnh thoảng có tiếng kêu rúc vang dậy, phá tan tĩnh mịch rồi dội vọng lại và truyền lan mãi vào cõi xa hút, như phút cuối thảng thốt của sự sống cùng hồn hoang huyền bí gọi nhau.
Giữa hoang dã, từ trong bóng tối rậm rạp của rừng già, những hình dạng con người nối nhau bước ra. Bàn chân trần, cùng những chiểc giày trận rách nát, như không còn cảm giác, dẫm dập lên sõi đá, tạo thành lối đi. Lối đi đưa đoàn người tù đi xuống hố thẫm của kẻ bại trận. Những thương binh ráng sức bước với nạng gỗ hay nương tựa vào đồng đội. Đoàn người tù lê chân mệt nhọc, ánh mắt đau xót, lẳng lặng chịu nhẫn nhục; thân người di động như những thể xác mất hồn đang bước theo bọn âm binh hằn học ghìm súng gắn lưỡi lê. Đoàn tù binh như bị kéo từ nơi sâu thẫm của oan nghiệt để đẩy vào địa ngục u uất. Họ bước nặng nề, di động xiêu vẹo.
Dọc theo bên lối đi, đây đó lố nhố những thanh tre rừng chấp thành chữ thập cấm bên nhúm đất, để đánh dấu nơi xác thân của từng đoạn đời bạc mệnh đã bị vùi thây.

Rồi rừng cây san sát âm u chợt mở rộng.

Phía trước, bên dưới đồi, là một khoảng trống, không còn thân cây cao, chỉ có doanh trại và trại giam gồm chục gian nhà dài quanh sân rộng trơ đất. Toán người đi trước dừng lại. Họ biết mình đang đi vào chốn tù đày, nhưng không khỏi khựng lại, kinh hoàng, khi địa ngục của trần gian hiện rõ ra từ phía trước.
Tên cai tù, tay ghìm súng dọa nạt, tay vung vẫy bực dọc, la hét hối thúc:
– Đi! Đi tiếp! Mau lên!
Gần bên ngoài lối vào trại, hai người tù đang chôn một chiến hữu vừa chết đêm qua. Thêm một vun đất nằm cạnh những ngôi mộ hãy còn màu đất mới. Cấm mạnh đoạn vạt nhọn của chân thập tự bằng tre, cho nó đứng tạm trên đầu nấm đất mới đấp. Anh vói lấy cái xẻng từ tay người bạn, lầm thầm lời nguyện:
– Cầu mong cho anh ấy được yên nghỉ trong yên bình…
Bang!
Lưỡi xẻng đập mạnh lên đầu cọc tre.
Bang! Bang! Bang!
Tiếng thép vang chát chúa, nghe lạnh rợn dọc trong ống xương. m thanh của miếng kim loại va vào vật cứng làm vỡ nát vết thương quá khứ. Quá khứ với tiếng của những nhát xẻng đập vào sọ người, đánh gục những thân thể rơi nhào xuống hố. Những hố chôn do chính nạn nhân mới vừa đào lấy, trước mũi súng đe doạ của đám quân lính nhân danh “cách mạng”. Vết thương quá khứ không bao giờ lành; với các hố chôn cùng những kiểu cách giết người man rợ của cộng sản, trãi dài từ các cuộc đấu tố, trong Cải Cách Ruộng Đất 1949, trong thảm sát Tết Mậu Thân 1968, trong các trại tù mà cộng sản gọi là “cải tạo” và trong các phòng tạm giam của công an hiện nay.
Bang!
Cọc tre lún ngập vào vun đất mới đấp.
Chống xẻng, nhìn thập tự trước mộ phần, anh nói tiếp với đồng đội và với thi thể người bạn tù nằm trong lòng đất và như nói với chính mình:
– … yên bình!… thứ mà… lúc còn sống anh ta đã chẳng được bao nhiêu!

Rập! Rập! Rập! Rập!
Nhịp chân của đoàn tù binh bước rầm rập theo tiếng huýt gió.
Nắng nhiệt đới gay gắt. Cây rừng đã bị đốn ngả để dựng trại, làm nơi giam giữ tù binh; giống các trại tù nhốt lính miền Nam lắm. Mặc cho cái nóng, nóng cháy trên mảng da trần, chiến binh Anh với quân phục tơi tả, nhưng vẫn nghiêm chỉnh bước theo chân Đại tá Nicholson. Họ không còn đi rời rạc mà xếp vào đội hình ba hàng dọc. Họ ngẩng cao gương mặt, cố chịu đựng, bước đồng nhịp. Đoàn quân chiến bại, không ban quân nhạc, không trống kèn, dù chân không hay giày đã rách nát, nhịp chân dậm vẫn mạnh theo tiếng huýt gió. Trong đôi mắt của người tù binh, hãy còn ánh kiên cường, bất khuất.

Đoạn phim trong phần khởi đầu Cầu Sông Kwai, bây giờ, dồn dập với nhịp quân hành. Đẹp hào hùng. Thật xúc động.
Vào ngày Lễ Remembrance Day, tại Vancouver, Ban Quân Nhạc Kỵ binh, thuộc Lữ Đoàn 41 Bộ binh, miền Tây Canada, bắt đầu nghi thức diễn hành với nhạc hiệu của đơn vị, cũng là khúc quân hành trong phim Cầu Sông Kwai.
Tiếng trống của ban quân nhạc thôi thúc nhịp chân; gợi nhắc, bừng dậy bầu nhiệt huyết của một thời trai trẻ vững bước trên Vũ Đình Trường. Một thời của thao trường đổ mồ hôi, của bản hùng ca Xuất Quân, của “một đường kiếm thép oai hùng đưa”…
Tuổi trẻ quỳ xuống thề hy sinh bảo vệ tổ quốc và tự do của dân tộc.
Tuổi trẻ đứng lên, trưởng thành trong chiến trận.
Tuổi trẻ gục ngã cho đuốc tự do còn cháy sáng….

“To you from failing hands we throw
The torch; be yours to hold it high.
If ye break faith with us who die
We shall not sleep, though poppies grow, in Flanders fields.”*

Vẫn còn đây: Quốc kỳ Việt Nam!

Quốc kỳ và Quân kỳ Việt Nam vươn cao cùng cờ của các quốc gia tự do, hiên ngang diễn hành trên thành phố Vancouver. Màu cờ vàng lộng gió tung bay thật oai dũng. Đây, chiến tích dựng nước và giữ nước của tiền nhân.

Thế Chiến Thứ Nhất!
Thế Chiến Thứ Hai!

Chiến tranh nào cũng lắm bạo tàn!
Cộng sản tàn bạo hơn quân Nazi, phát xít Đức!

Trong chế độ cộng sản, tuổi trẻ bị vùi dập trong hận thù. Con người với tình người, nghĩa đồng bào bị đảng biến thành những loại người mất nhân tính, để điên cuồng phục vụ cho lý tưởng chiếm đoạt, thống trị!
Trong thảm sát Tết Mậu Thân 1968. Chỉ ở Huế, trong 22 địa điểm tìm được các mồ chôn tập thể, người ta đếm được 2,326 sọ người. Thi hài bị cột trói thành xâu. Nạn nhân gồm người già, phụ nữ và có cả trẻ thơ. Tại Sài Gòn, khi du kích cộng quân vào nhà giết trọn một gia đình. Cậu bé 10 tuổi bị thương nặng nằm bên xác mẹ, suốt hai giờ; sau đó được cứu sống và trở thành sĩ quan cấp tướng của Hải Quân Hoa Kỳ hiện nay. Phó Đề Đốc Nguyễn Từ Huấn, không thể quên và nhắc lại thảm sát man rợ ấy như sau:

Bố tôi là cố Đại tá Nguyễn Tuấn, lúc ông mất là Trung tá Nguyễn Tuấn, thuộc binh chủng Thiết giáp. Mẹ tôi là bà Từ Thị Như Tùng. Cả hai người và 5 anh em của tôi đã bị thảm sát vào năm 1968, trong biến cố Tết Mậu Thân. Lúc đó tôi 10 tuổi. Những ký ức đó ghi đậm vào trong đầu óc tôi hơn 50 năm nay và tôi đã phải sống lại với sự kiện đó gần như hàng năm.”

Sau khi miền Nam bị cộng sản cưỡng chiếm, Thiếu tá Huỳnh Túy Viên, Quận trưởng của quận Đầm Dơi, đã bị quân cộng sản man rợ tử hình bằng cách móc mắt ngay tại quận lỵ, vào tháng 5 năm 1975.
Tội ác của cộng sản không chỉ trong quá khứ mà còn tiếp diễn đến ngày nay!

We Remember!

Tiếng kèn đồng chấm dứt The Last Post với dấu nhạc cao vút, âm vang kéo dài đưa lòng người vào Hai Phút Mặc Niệm, để tưởng nhớ người vì nước hy sinh. Họ là những anh hùng lưu danh hậu thế cùng những anh hùng vô danh:

Đã xông vào khói lửa quyết liều thân
Để bảo vệ Tự Do cho Tổ Quốc” *
*

Trong cuộc sống đầy đủ, người ta dễ quên đi nỗi khó khăn thiếu thốn mà mình đã phải trải qua. Người ta hết nhớ hay không muốn nhớ đến niềm hân hoan khi được hưởng nhận những gì đã từng mong ước. Tự do, quyền làm người, tưởng như chỉ là những gì tầm thường, sẵn có quanh mình. Đến khi dân tộc bị cướp đoạt những quyền căn bản làm người, người ta mới khao khát và nhận ra rằng: cái giá của Tự Do quả thật là vô giá!
Hơn 70 năm qua, dân tộc Việt đã phải trả một cái giá quá đắt, bằng những núi xương, sông máu, cho hai chữ độc lập và tự do trên đầu môi chót lưỡi của cộng sản. Hàng ngàn người yêu nước vẫn đang bị tù đày chỉ vì muốn đòi lại nền độc lập và tự do mà đảng đã cướp đoạt của dân tộc.

Trên nước Pháp, đang lúc bị quân bạo ngược Nazi cưỡng chiếm, trong giáo đường có hiện diện của quân lính Nazi, linh mục Louis Rolland vẫn bình thản cất cao lời giảng cho các giáo dân rằng:

“In this darkest hour, in the gloom of night… we must not despair.
Let us keep our faith intact, unswerving!
For each of us…. deliverance is coming!”

Trong giờ phút đen tối nhất này, trong màn đêm u ám, chúng ta không được tuyệt vọng, hãy giữ đức tin, thật vững vàng!
Với mỗi người chúng ta, sự cứu rỗi sẽ đến!
Giữ vững đức tin, kháng chiến quân Pháp đã không sợ hãi, chiến đấu can trường với lực lượng Đồng Minh, để giành lại tự do cho nước Pháp.

Khi dân tộc còn khí phách; nước Pháp thoát khỏi gông cùm của Nazi Đức.
Khi đảng cầm quyền còn sợ hãi bóng ma của cái xác chưa chôn nơi Ba Đình, còn thần phục giặc Tàu cộng: còn mất nước, mất tự do!
Khi tinh thần Dân Tộc bạc nhược thì Đất Nước tiêu vong!

Remember!

Để nhớ ngày 11/11/2019
Bùi Đức Tính

…………………………………………………………………………………………………………………………..
* In Flanders Fields – Trung tá Y sĩ John McCrae, Canada; tử trận tại Pháp.
** Anh Hùng Vô Danh-Việt Tâm /100 Bài Tập Đọc-Lớp Nhất & Lớp Nhì, Chương trình giáo dục của miền Nam, Việt Nam Cộng Hòa.

Comments are closed.