Thời Báo Vietnamese Newspaper

152

Chờ cho trời chập choạng tối. Đúng bảy giờ. Tôi tới căn nhà ở đầu con hẻm, bên nhà lồng chợ, bên chiếc xe bán hủ tiếu dạo. Một cô gái áo xanh đứng cạnh xe hủ tiếu. Tôi sẽ cặp tay cô gái ấy. Hai người sẽ đi bên nhau thật tự nhiên như một đôi tình nhân. Chúng tôi sẽ đi vòng quanh chợ nhà lồng, đến một căn nhà bên gốc cây mít rậm lá. Căn nhà lụp sụp có lối nhỏ dẫn ra phía sau. Căn nhà nhỏ bên bờ con kinh nước đen. Đôi tình nhân – tôi và cô gái – sẽ đẩy cửa bước vào nhà. Tuyệt đối không nói chuyện với ai. Chúng tôi sẽ leo lên cái sạp gỗ gụ. Mùng mền có sẵn. Chúng tôi sẽ chui vào mùng, nằm yên đó chờ. Nửa khuya, sẽ có tiếng ba tiếng gõ – hai nhanh, một chậm – ở cửa sau. Chúng tôi sẽ chui ra khỏi mùng, dắt nhau ra cửa sau. Sẽ có người chờ trong đêm tối. Chúng tôi cứ việc theo người đó xuống ghe nhỏ. Chúng tôi sẽ cùng những người đã có mặt sẵn trên ghe cùng chèo ra cửa biển. Ghe lớn sẽ chờ chúng tôi ngoài đó.
Hình ảnh chuyến đi bốn mươi năm trước vẫn còn in đặm trong trí nhớ. Tôi nhớ khoảng đêm đen dày đặc bên ngoài. Tôi nhớ mặt nước con kinh lấp lánh ánh sao. Tôi nhớ lúc tôi với cô gái – chưa gặp bao giờ – đóng vai đôi tình nhân nằm bên nhau, trong căn nhà lạ, trên tấm phản gỗ gụ láng bóng, tôi nhớ mình đã nghịch ngợm chạm nhẹ vào cổ tay cô gái, bắt chước ông thày lang bắt mạch cổ tay và hỏi: “Có run không?” Tôi nhớ ánh mắt lấp lánh dưới ánh đèn dầu lù mù và một khoé cười bao dung. Tôi nhớ chúng tôi rụt rè dắt tay nhau. Tôi nhớ tôi vịn chắc tay cô gái lúc cô bước xuống con thuyền tròng trành, tôi nhớ tôi và cô bạn đồng hành ngồi trên tấm ván đặt ngang trong lòng chiếc xuồng mỏng manh, tay với ra ngoài, phụ người lái đò, gạt dòng nước lạnh, giúp chiếc ghe lướt ra ngoài cửa biển.
Hơn bốn mươi năm trước, chuyến vượt biên của tôi bắt đầu như thế. Cùng một cô gái chưa hề quen, nghe nói là cô giáo trường trung học phổ thông của thị xã, đi sát bên nhau dài con phố, qua nhà lồng chợ, với căn nhà chật chội, le lói ngọn đèn dầu vặn nhỏ, với chỗ nằm thênh thang, với hai chiếc gối mềm nhũn, với hơi ấm làn da cổ tay mỏng mảnh, với mỗi một câu trao đổi hời hợt, với bàn tay quạt nước mong chiếc ghe sớm ra cửa biển để lên ghe lớn, rời bỏ cái nơi mà mỗi khi nhắc tới trái tim luôn lỡ nhịp.
Hơn bốn mươi năm trước, tôi rời bỏ quê hương như thế. Có chút gì đó lãng mạn và thơ mộng, bạn có nghĩ như tôi không?
Bốn mươi năm sau. Sau bao nhiêu năm tháng cào sâu, chôn chặt những móng vuốt trên đầu trên cổ hơn chín mươi triệu con dân, nhà cầm quyền ở cái xứ sở hình chữ S, bên bờ Biển Đông (mà bây giờ đang là ao nhà của bọn hải tặc phương Bắc) vẫn không ngăn được chuyện người dân nước Việt tiếp tục bỏ nước ra đi. Tôi không đoán được trong số 152 người Việt bỏ đoàn du lịch, trốn bặt tăm ở Đài Loan những ngày cuối năm 2018 vừa rồi, có ai trải qua những giây phút hồi hộp, lo âu – nhưng cũng đầy thơ mộng như tôi năm xưa không, nhưng chắc chắn họ không phải lo âu, trốn tránh, giả làm khách qua đường, không nói chuyện với bất kỳ ai trước khi trốn biệt vào nơi ẩn náu nào đó; và tôi biết chắc chắn họ với tôi cùng chung một ước mơ, cùng chung một nỗi niềm: Phải bỏ chốn ấy mà đi thôi. Phải đi bất kỳ lúc nào cơ hội đến với mình. Cái khác nơi tôi và cô giáo chưa quen ở trường trung học phổ thông cái thị xã nhỏ bé năm xưa với 152 người bỏ đoàn du lịch, trốn bặt tăm kia là chúng tôi lo âu trước chuyến đi, lo công an, lo bọn chỉ điểm, lo những kẻ nhảy đại xuống ghe vào giờ chót để lộ chuyến đi và bị bắt; trong khi 152 người kia, nỗi lo chỉ thực sự trở thành to lớn trước mắt họ khi họ đã đến được bến bờ.
Sau khi đến được Đài Loan, nỗi lo âu của họ mới thực sự bắt đầu. Ngày trước, đến được hải phận quốc tế, chúng tôi giảm hẳn lo âu. Ngày ấy thế giới còn mở rộng vòng tay. Trôi dạt đến đâu thì cũng đã là ra khỏi cái đất nước bị đổi tên thành Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Cộng, nghĩa là ra khỏi ngục tù. Còn 152 người bỏ trốn kia, tới được xứ người, thoát ra khỏi móng vuốt của cái chế độ Mafia Đỏ rồi, nỗi lo của họ vẫn còn nguyên vẹn. Họ sẽ là những di dân bất hợp pháp trên xứ sở xa lạ. Tất cả mọi sinh hoạt của họ từ giây phút thoát khỏi móng vuốt bọn Tư Bản Đỏ Việt Cộng, tất cả mọi thứ liên quan đến họ đều là LẬU hết cả. Cư trú lậu, làm việc lậu, thuê nhà lậu, đi đứng ăn ở, sinh hoạt, mua sắm vân vân tất cả đều lậu. Nói một cách khác là bất hợp pháp. Buồn chứ!
Trước khi quyết định bỏ đoàn du lịch, trốn đi biệt tích trên xứ người hẳn nhiên họ cũng hiểu rằng mình sẽ thành thứ chủng loại LẬU về mọi mặt.
Nhưng sao người ta vẫn ra đi?
Một tay chức sắc nhà nước Việt Cộng (xin nêu đích danh: “ngài” Lưu Bình Nhưỡng, Đại Biểu Quốc Hội) bảo rằng hành vi của 152 người ấy làm nhục QUỐC THỂ. Hai chữ “quốc thể” gã quan chức ấy sử dụng đã khiến thiên hạ lao nhao phản đối. Tôi thì cho rằng chuyện con dân của một nước nườm nượp theo nhau bỏ xứ ra đi hiển nhiên là làm nhục… nhưng không làm nhục quốc thể mà làm nhục cái bọn cầm quyền.
Và nhục quốc thể là vì những chuyện như thế này: ăn cắp phải giả dạng bệnh tâm thần để chạy tội, bắt sò trên bãi biển, vận chuyển hàng ăn cắp, buôn hàng quốc cấm, buôn bán vận chuyển sừng tê giác, phơi vây cá mập trên nóc tòa nhà sứ quán, lợi dụng chức vụ để ăn tiền khi cấp giấy tờ cho Việt Kiều, bắt vịt trời để làm tiết canh, bắt trộm chó để làm rựa mận, bắt mèo thui ngay trong căn phòng chung cư… những vi phạm đó được dán đặm cái nhãn hiệu nền đỏ và một ngôi sao vàng chói trong con mắt “bè bạn quốc tế.”
Nếu những tay quan chức – với những mảnh bằng tiến sĩ, bằng thạc sĩ treo đầy trên tường văn phòng hay tư dinh của họ – biết đọc, và chịu khó đánh vần qua bản tường trình những số liệu Di Cư Quốc Tế (International Migration Organization – IOM) họ sẽ thấy từ 1990 đến 2015 có 2.558.678 (hơn hai triệu rưỡi) người Việt di cư ra nước ngoài, nghĩa là trong 26 năm, mỗi năm có gần một trăm ngàn người Việt bỏ xứ ra đi. Rồi số liệu của Ngân Hàng Thế Giới cũng cho thấy trong khu vực Đông Á – Thái Bình Dương, Việt Nam nằm trong danh sách 10 quốc gia có dân di cư ra nước ngoài nhiều nhất.
Đấy là thống kê của quốc tế, riêng Bộ Tư Pháp nhà nước Cộng Sản Việt Nam trong 5 năm qua đã trình Chủ Tịch nước duyệt xét bốn chục ngàn (40.000) đơn xin trở lại hoặc từ bỏ quốc tịch nước Việt Cộng.
Tài liệu “Quốc Tịch và Luật Quốc Tịch Việt Nam” cũng ghi nhận 80% người Việt ở nước ngoài định cư tại các quốc gia tư bản (trong khi cái nhà nước Việt Cộng ấy không ngừng chê bai tư bản). Không biết khi làm tổng kết con số “người Việt ở nước ngoài”, đám làm sổ sách của Hà Nội có gom chung những người không còn muốn dính líu gì đến cái đất nước sắp trở thành quận huyện của Bắc Kinh hay không, bởi khi Cao Ủy Liên Hiệp Quốc (UNHCR) công nhận họ là tị nạn và ghi trên thẻ tị nạn của họ chữ “Stateless” thì họ chẳng còn liên hệ xa gần gì đến nước Cộng Hòa Xã Hội Việt Cộng nữa, ít nhất là trong tâm tư họ và trên giấy tờ tùy thân của họ.
152 du khách Việt tập trung trước khách sạn ở thành phố Cao Hùng rồi chia thành nhiều nhóm nhỏ lên xe biến vào bóng đêm. Báo chí đăng những tấm hình du khách Việt ở Đài Loan và đặc biệt một tấm hình có đống hành lý bỏ lại. Những người từ bỏ quê hương xứ sở hôm nay vẫn không khác gì những người buộc lòng phải bỏ xứ ra đi ngày trước.
Buổi tối đến nơi hẹn với cô gái không quen, tôi không mang theo bất cứ thứ gì ngoài bộ quần áo đang mặc trên người. Chúng tôi ra đi, bỏ lại quá nửa con người của chính mình. Cha mẹ, anh chị em, bà con thân thuộc, xóm giềng, sách vở, công ăn việc làm, và khó khăn nhất: mộ phần Tổ Tiên. Tôi đi với hai bàn tay trơ trọi. Cô gái hình như cũng không mang gì theo. Chúng tôi bỏ hết mọi thứ để mong thoát khỏi ngục tù. Những người Việt bỏ đoàn du lịch ở Đài Loan chắc cũng vậy.
Những ai lên án đoàn người dứt bỏ cái xứ sở sài mòn, khốn khó kia hãy nhìn xa hơn một chút, về đất nước Venezuela, nơi những người phụ nữ phải vượt biên, để bán tóc lấy tiền mua thực phẩm cho con mình. Cho rằng họ không yêu đất nước Venezuela của họ là kết luận ốm o khởi đi từ những suy nghĩ hạn hẹp. Họ chỉ không còn chịu nổi cái chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa mà bọn quan chức đem ra thử nghiệm ở đất nước họ.
152 người vừa biến mất ở Đài Loan – cũng như vô số những người đã bỏ trốn trước đây ở Đài Loan và ở nhiều quốc gia khác – hẳn cũng biết rằng ngay cả những công nhân trong nhóm “xuất khẩu lao động” hay nói nôm na dễ hiểu là đi làm mướn ở xứ người, nghĩa là sự có mặt của họ ở đất nước xa lạ hoàn toàn hợp pháp, đời sống họ cũng vô cùng vất vả và cơ cực. Người Canada, người Mỹ gốc Việt có dịp “ve vẩy” ở những xứ như Đài Loan, Hàn Quốc… chụp hình về quăng đầy Facebook hay Instagram để phô trương hãy một lần ghé thăm một nhà máy nào đó, nơi “bọn” xuất khẩu lao động đến từ Việt Nam làm việc 10 đến 12 giờ một ngày, hãy ghé nơi họ chui rúc sau những giờ làm việc mệt nhoài, và hãy trò chuyện với họ một vài câu để tìm hiểu xem, làm mấy năm nữa thì họ sẽ đủ tiền trả cho bọn môi giới làm hồ sơ cho họ đi “xuất khẩu lao động.”
Đấy là những công nhân có giấy tờ hợp pháp, những người ở “chui”, ở “lậu” như 152 người vừa bỏ trốn kia chắc chắn sẽ cơ cực hơn nhiều.
Năm xưa, mỗi lần có thân nhân, bạn bè vượt biên, những người ở lại thường hồi hộp ngóng tin vui và âm thầm cầu nguyện cho người đi đến được bến bờ bình an. Năm nay thân nhân của 152 người trốn chạy kia hẳn cũng âm thầm mong ước, nhưng mong ước gì đây? cầu mong họ đến được bến bờ ư? Nhưng mà họ thực sự đã đến được bến bờ, chỉ khác đó chính là nơi họ sẽ bị ngày đêm truy nã.
Thôi thì chỉ biết cầu cho họ được bình yên!
Như tôi hơn 40 năm trước.
Chúng tôi ra tới cửa biển. Nhìn bốn phía, nước trời mênh mông. Chúng tôi thả cho chiếc ghe trôi lênh đênh. Nước lúp xúp lòng ghe. Mọi người đua nhau vớt nước bằng bàn tay, tạt ra ngoài cho ghe khỏi chìm. Biển lặng, trời trong, những vì sao mờ dần. Chờ cả tiếng đồng hồ và chúng tôi hiểu ra rằng ghe lớn đã bỏ đám chúng tôi lại. Và chúng tôi hối hả chèo ghe trở về bãi đáp. Lên đến bờ, cả bọn chạy tứ tán như bầy chim vỡ tổ.
Vài hôm sau nghe tin, sau đêm hôm ấy, ghe lớn đã ra được tới hải phận quốc tế, và đã gặp thứ mà những kẻ vượt biển thời ấy tìm mọi cách để tránh né: tàu của Liên Bang Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Xô Viết!

Khúc An

Comments are closed.

error: Content is protected !!